Bã bùn mía là gì? Các công bố khoa học về Bã bùn mía

Bã bùn mía là sản phẩm phụ từ quá trình ép mía, thường bị coi là phế phẩm. Tuy nhiên, với sự phát triển công nghệ, bã bùn mía được sử dụng rộng rãi: làm phân bón hữu cơ, sản xuất giấy, tạo nhiên liệu sinh học và xử lý nước thải nhờ khả năng hấp phụ kim loại nặng. Lợi ích của việc tận dụng bã bùn mía bao gồm giảm ô nhiễm và tạo giá trị kinh tế. Dù vậy, việc xử lý bã bùn mía còn đối mặt với các thách thức liên quan đến chi phí xử lý và ổn định chất lượng. Để tối ưu hóa, cần sự hợp tác và đầu tư từ các bên liên quan.

Giới thiệu về bã bùn mía

Bã bùn mía là một sản phẩm phụ thu được từ quá trình ép mía để sản xuất đường. Đây là phần cặn bã còn lại sau khi nước mía được chiết xuất để lấy đường, thường được coi là một loại phế phẩm trong ngành công nghiệp mía đường. Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu tận dụng tài nguyên, bã bùn mía ngày càng được nghiên cứu và sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Thành phần của bã bùn mía

Bã bùn mía chủ yếu bao gồm các thành phần hữu cơ và vô cơ. Trong đó, thành phần hữu cơ là chủ yếu, bao gồm các sợi cellulose, hemi-cellulose và lignin. Ngoài ra, bã bùn mía còn chứa một số chất dinh dưỡng như nitơ, phốt pho và kali, cùng một lượng nhất định các khoáng chất khác. Tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu và quy trình sản xuất, thành phần cụ thể của bã bùn mía có thể khác nhau.

Các ứng dụng của bã bùn mía

Trong những năm gần đây, bã bùn mía đã chứng tỏ được giá trị kinh tế và môi trường qua các ứng dụng sau:

  • Phân bón hữu cơ: Với hàm lượng chất dinh dưỡng trong thành phần, bã bùn mía là nguyên liệu lý tưởng để sản xuất phân bón hữu cơ, giúp cải thiện độ màu mỡ của đất và tăng cường chất lượng cây trồng.
  • Sản xuất giấy: Bã bùn mía có thể được sử dụng để sản xuất giấy thay thế cho gỗ, giúp giảm áp lực lên tài nguyên rừng.
  • Nhiên liệu sinh học: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bã bùn mía có thể được chuyển hóa thành nhiên liệu sinh học, góp phần đáp ứng nhu cầu năng lượng và giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.
  • Xử lý nước thải: Bã bùn mía có khả năng hấp phụ các kim loại nặng, là lựa chọn hiệu quả trong việc xử lý nước thải công nghiệp.

Lợi ích và thách thức trong việc sử dụng bã bùn mía

Sử dụng bã bùn mía mang lại nhiều lợi ích như giảm thiểu ô nhiễm, tận dụng tài nguyên và tạo ra giá trị kinh tế cho ngành công nghiệp mía đường. Tuy nhiên, việc xử lý và sử dụng bã bùn mía cũng đối mặt với một số thách thức, bao gồm:

  • Chi phí xử lý: Quy trình xử lý bã bùn mía để đạt tiêu chuẩn sử dụng đòi hỏi công nghệ và chi phí đầu tư ban đầu cao.
  • Ổn định chất lượng: Chất lượng bã bùn mía có thể thay đổi tùy theo từng thời điểm sản xuất, đòi hỏi các biện pháp kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt.

Kết luận

Bã bùn mía không chỉ là một sản phẩm phụ không mong muốn mà còn là một nguồn tài nguyên quý giá nếu được sử dụng một cách hiệu quả. Việc nghiên cứu và phát triển các ứng dụng của bã bùn mía không chỉ giúp giảm thiểu phí thải mà còn tạo ra lợi ích lớn cho nền kinh tế và môi trường. Tuy nhiên, để tối đa hóa những lợi ích này, cần có sự đầu tư và hợp tác giữa các bên liên quan từ nhà sản xuất, nhà khoa học đến chính phủ và cộng đồng.

Danh sách công bố khoa học về chủ đề "bã bùn mía":

TÀI LIỆU MỚI VỀ MẶT CẮT CHUẨN CỦA CÁC HỆ TẦNG SIKA, BẮC BUN, MIA LÉ TUỔI DEVON SỚM VÙNG ĐỒNG VĂN, HÀ GIANG
Vietnam Journal of Earth Sciences - Tập 27 Số 1 - 2005
The Lung Co - Mia Le setion containing the stratotypesof 3 formations (Si Ka, Bac Bun and Mia Le Formations) was described firsly about 90 years ago. In this article the author gives supplementarily -paleontological data Which were collected and studied recently. These fossils are the representatives of following groups : Brachiopods, Bivalves, Plants, Fishes, Tetracorals and Tentaculites. The existence of these fossils allows to confirm the position of ab'ove-mentionedformations in the chronostratigraphical scale.Due to the new materials and observation, we have a complete knowledge about the stratotypes of three Early Devonian formations which are largely distributed in the North-East of Sac Bo (such Si Ka,Sac Bun and Mia Le formations) and the regional stratigraphical correlation becomes more favourable.
ẢNH HƯỞNG CỦA BÓN ĐẠM, LÂN, KALI KẾT HỢP BÃ BÙN MÍA LÊN SINH TRƯỞNG, ĐỘ BRIX VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY MÍA ĐƯỜNG TRÊN ĐẤT PHÙ SA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Tạp chí Khoa học Đại học cần Thơ - Số 29 - Trang 70-77 - 2013
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của bón NPK và bón bã bùn mía (BBM) lên sinh trưởng, độ Brix, năng suất và hiệu quả nông học của cây mía trên đất phù sa. Thí nghiệm 1 gồm các nghiệm thức NPK, NP, NK và PK  kết hợp với 10 tấn/ha bã bùn mía, và thí nghiệm 2 gồm 2 nghiệm thức NPK-BBM và NPK-KBBM được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên trên đất phù sa ở Cù Lao Dung ? Sóc Trăng và Long Mỹ - Hậu Giang. Kết quả thí nghiệm cho thấy bón đạm giúp gia tăng chiều cao cây mía và đường kính thân cây mía. Hiệu quả nông học của N, P, K được ghi nhận là đạm > lân > kali. Trên đất phù sa Sóc Trăng, hiệu quả nông học đạt được là 227 kg mía/kgN; 186 kg mía/kg P2O5 và 78 kg mía/kg K2O. Trong khi hiệu quả nông học trên đất phù sa ở Long Mỹ là 160 kg mía/kgN, 107 kg mía/kg P2O5 và 48 kg mía/kg K2O. Bón NPK có kết hợp bón bã bùn mía đưa đến năng suất mía đạt 159 - 179 tấn/ha, với mức tăng năng suất mía đường của dưỡng chất của N, P và K được ghi nhận theo thứ tự là 48,14-68,22; 13,42-23,31 và 9,75-15,70 tấn mía/ha. Hiệu quả của bón bã bùn mía giúp gia tăng chiều cao cây mía và năng suất mía trên đất phù sa ở hai địa điểm nhưng chỉ tăng đường kính cây ở Cù Lao Dung và tăng độ brix mía đường ở Long Mỹ.
#Sinh trưởng mía #năng suất mía #hiệu quả nông học mía đường #đất phù sa
Hiệu quả của phân hữu cơ rắn từ nước thải hầm ủ biogas và bã bùn mía lên sinh trưởng và năng suất cải xà lách (Lactuca sativa) ở điều kiện nhà lưới
Tạp chí Khoa học Đại học cần Thơ - - 2022
Nghiên cứu tái sử dụng nguồn nước thải hầm ủ biogas để tạo phân hữu cơ dạng rắn và đánh giá hiệu quả phân lên sinh trưởng và năng suất cây xà lách ở điều kiện nhà lưới. Nước thải biogas được hấp phụ vào xỉ than và trộn với bã bùn mía với các tỷ lệ 30:70, 20:80, 10:90 (%:%), sau đó bổ sung bột cá và vi khuẩn có lợi cho cây trồng. Kết quả cho thấy nghiệm thức 30:70 (%:%) bổ sung 16,7% bột cá và vi khuẩn có lợi đạt tiêu chuẩn phân hữu cơ rắn của Việt Nam. Các nghiệm thức bón 1-5 tấn/ha phân hữu cơ rắn ở điều kiện nhà lưới giúp cây cải xà lách sinh trưởng tốt hơn và cho năng suất tăng thêm từ 47-127%, đồng thời giúp giảm 25% lượng phân NP theo khuyến cáo. Như vậy, việc tái sử dụng nguồn nước thải hầm ủ biogas kết hợp xỉ than và bã bùn mía đã giúp tăng năng suất cây trồng, tiết kiệm được phân bón hóa học và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững.
#Bã bùn mía #kích thích sinh trưởng cây trồng #nước thải biogas #phân hữu cơ #rau xà lách
Đánh giá chất lượng của hai dạng phân bón hữu cơ lỏng và rắn được tạo ra từ nước thải hầm ủ biogas
Tạp chí Khoa học Đại học cần Thơ - Tập 58 Số 6 - Trang 106-116 - 2022
Nghiên cứu được thực hiện nhằm tận dụng dinh dưỡng của nước thải biogas để tạo phân hữu cơ dạng lỏng và rắn bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng. Thành phần của nước thải biogas sau khi thu được đánh giá về chất lượng.  Dịch cá và vi khuẩn có ích được bổ sung vào torng nước thải để tạo phân hữu cơ dạng lỏng. Đối với phân hữu cơ rắn, nước thải biogas được hấp thụ vào xỉ than trước khi phối trộn với bã bùn mía. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ phối trộn 60:40 (v/v) giữa nước thải hầm ủ biogas và dịch cá là tốt nhất. Đối với phân hữu cơ rắn, tỉ lệ phối trộn 70% bã bùn mía và 30% xỉ than đã hấp thu nước thải biogas, kết hợp bổ sung thêm 16,7% bột cá là công thức tốt nhất. Nhiệt độ bảo quản đảm bảo thành phần và chất lượng của 2 loại phân hữu cơ này là 30oC.
#Bã bùn mía #nước thải hầm ủ biogas #phân hữu cơ lỏng #phân hữu cơ rắn #xỉ than
Liệu pháp đối với giai đoạn bùng phát tủy của bệnh bạch cầu mãn tính dạng hạt bằng plicamycin và hydroxyurea Dịch bởi AI
Annals of Hematology - Tập 58 - Trang 85-87 - 1989
Việc điều trị giai đoạn bùng phát tủy của bệnh bạch cầu mãn tính dạng hạt vẫn là một vấn đề lớn trong huyết học lâm sàng. Việc điều trị plicamycin và hydroxyurea cách ngày đã được báo cáo là tạo ra sự thuyên giảm ở phần lớn bệnh nhân trong giai đoạn bùng phát tủy bởi Koller và Miller vào năm 1986. Sau đó, chúng tôi đã điều trị tám bệnh nhân theo phác đồ này. Không thể đạt được sự thuyên giảm hoàn toàn và không quan sát thấy sự kéo dài thời gian sống trung vị. Ở hai bệnh nhân, việc điều trị phải ngừng lại do độc tính nặng.
#bệnh bạch cầu mãn tính dạng hạt #giai đoạn bùng phát tủy #plicamycin #hydroxyurea #huyết học lâm sàng
Phát triển bản đồ mật độ ruồi giác để hướng dẫn các can thiệp chống bệnh ngủ châu Phi ở phía Bắc Uganda Dịch bởi AI
Parasites and Vectors - - 2018
Kiểm soát véc tơ đang nổi lên như một thành phần quan trọng trong nỗ lực toàn cầu nhằm kiểm soát bệnh ngủ Gambia (trypanosomiasis châu Phi ở người, HAT). Việc triển khai các mục tiêu được điều trị bằng thuốc diệt côn trùng (“Mục tiêu Nhỏ”) để thu hút và tiêu diệt ruồi tsetse sống gần sông, các véc tơ của Trypanosoma brucei gambiense, đã cho thấy sự hiệu quả về chi phí. Khi phương pháp kiểm soát véc tơ này tiếp tục được áp dụng trên diện rộng, hiểu biết về sự phong phú của ruồi tsetse để định hướng cho việc triển khai các “Mục tiêu Nhỏ” sẽ trở nên ngày càng có giá trị. Trong bài báo này, chúng tôi sử dụng khung mô hình địa thống kê để sản xuất các bản đồ về mật độ ước lượng của ruồi tsetse dưới hai kịch bản: (i) khi có dữ liệu chính xác về mạng lưới sông địa phương; và (ii) khi thông tin về sông còn thiếu. Dữ liệu về mật độ ruồi tsetse được thu thập từ một khảo sát trước can thiệp thực hiện ở phía Bắc Uganda vào năm 2010. Dữ liệu mạng lưới sông được thu thập từ các bản đồ đã số hóa hoặc từ các dữ liệu mô hình độ cao kỹ thuật số (DEM) có độ phân giải 30 m như một đại diện cho dữ liệu sự thật trên mặt đất. Các biến môi trường khác được lấy từ dữ liệu viễn thám có độ phân giải công khai (ví dụ: Landsat, 30 m độ phân giải). Các mô hình địa thống kê phân phối nhị cực âm bị dồn nén đã được áp dụng cho dữ liệu mật độ bằng cách sử dụng phương pháp xấp xỉ Laplace lồng ghép tích hợp, và các bản đồ về mật độ ước lượng của ruồi tsetse đã được sản xuất. Hạn chế phân tích chỉ vào các bẫy nằm trong vòng 100 m của bất kỳ con sông nào, các mối liên hệ tích cực đã được xác định giữa chiều dài sông và độ ẩm tối thiểu của đất/thảm thực vật của khu vực xung quanh cùng số lượng ruồi bắt hàng ngày, trong khi các mối liên hệ tiêu cực đã được phát hiện với độ cao và khoảng cách đến sông. Các mô hình đầu ra có thể phân biệt chính xác giữa các bẫy có số lượng ruồi bắt cao và thấp (ví dụ: < 5 hoặc > 5 ruồi/ngày), với một ROC-AUC (đặc điểm nhận dạng đầu vào - diện tích dưới đường cong) lớn hơn 0.9. Trong khi đường đi chính xác của sông không được gần đúng tốt bằng cách sử dụng dữ liệu DEM, các mô hình sử dụng dữ liệu sông derived từ DEM hoạt động tương tự như các mô hình tích hợp thông tin sông địa phương chính xác hơn. Những mô hình này giờ đây có thể được sử dụng để hỗ trợ trong việc thiết kế, triển khai và giám sát các hoạt động kiểm soát ruồi tsetse ở phía Bắc Uganda và có thể được sử dụng như một khuôn khổ để thực hiện các nghiên cứu tương tự ở các khu vực khác nơi Glossina fuscipes fuscipes lây lan bệnh ngủ Gambia.
#bệnh ngủ Gambia #kiểm soát véc tơ #ruồi tsetse #mô hình địa thống kê #Uganda
Hành vi bay của bọ cánh cứng dài cổ đỏ, Aromia bungii (Coleoptera: Cerambycidae): một loài sâu hại xâm lấn gây chết cây Rosaceae Dịch bởi AI
Applied Entomology and Zoology - Tập 52 - Trang 559-565 - 2017
Bọ cánh cứng dài cổ đỏ, Aromia bungii (Faldermann) (Coleoptera: Cerambycidae), đã xâm lấn Nhật Bản gần đây, là một loài sâu hại nghiêm trọng. Ấu trùng của chúng gây chết cây anh đào và các cây thuộc họ Rosaceae trong vườn như đào, mận, và mơ. Để làm rõ các đặc điểm tìm bạn tình của chúng, hành vi bay của con đực và con cái đã được quan sát trong các đường hầm gió với con đực và con cái bị nhốt làm mồi. Trong một đường hầm gió nhỏ (đường kính 50 cm, chiều dài 2 m), cả hai giới đều thể hiện hành vi cất cánh theo sự tăng lên của luồng không khí. Tỷ lệ cất cánh của con cái khi gặp mồi là con đực sống trong lồng lưới thường cao hơn so với các sự kết hợp khác. Trong một đường hầm gió lớn (khoảng 1,6 m đường kính, 4 m chiều dài), cả hai giới đều bay lên và thể hiện hành vi bay lơ lửng tạm thời và bay không ổn định. Khi các lồng mồi con đực được đặt ở phía gió trong đường hầm gió, con cái cho thấy "hành vi bay ngược gió", trong khi con đực thì không. Giả thuyết cho rằng con cái được kích thích bay ngược gió bởi một yếu tố nào đó từ con đực sống, rất có thể là một thành phần pheromone trong không khí.
#Aromia bungii #bọ cánh cứng #sâu hại xâm lấn #hành vi bay #pheromone #cây Rosaceae
Impact of a pharmacist-facilitated, evidence-based bundle initiative on Staphylococcus aureus bacteremia management
Diagnostic Microbiology and Infectious Disease - Tập 101 - Trang 115535 - 2021
Chặn thụ thể 5-HT1A đảo ngược tác dụng giảm lo âu trung gian α3 thụ thể GABAA đối với tăng thân nhiệt do stress gây ra Dịch bởi AI
Psychopharmacology - Tập 211 - Trang 123-130 - 2010
Các rối loạn liên quan đến stress có liên quan đến rối loạn chức năng của cả hệ serotonergic và GABAergic, và các thuốc giảm lo âu hiệu quả lâm sàng tác động thông qua cả hai hệ dẫn truyền thần kinh này. Do có bằng chứng cho thấy hệ thụ thể GABAA và serotonin tương tác với nhau, có thể có một thành phần serotonergic trong tác động giảm lo âu của các benzodiazepine. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là điều tra xem tác dụng giảm lo âu của các chất chủ vận thụ thể GABAA tiểu đơn vị α (không) chọn lọc có thể bị đảo ngược bởi việc chặn thụ thể 5-HT1A bằng cách sử dụng mô hình tăng thân nhiệt do stress (SIH) hay không. Chất đối kháng thụ thể 5-HT1A WAY-100635 (0,1–1 mg/kg) đã đảo ngược hiệu ứng giảm SIH của chất chủ vận thụ thể GABAA không chọn lọc tiểu đơn vị α, diazepam (1–4 mg/kg) và chất chủ vận thụ thể GABAA chọn lọc tiểu đơn vị α3 TP003 (1 mg/kg), trong khi WAY-100635 một mình không có tác dụng đối với phản ứng SIH hoặc nhiệt độ cơ thể cơ bản. Đồng thời, cách dùng phối hợp WAY-100635 với diazepam hoặc TP003 đã làm giảm nhiệt độ cơ thể cơ bản. WAY-100635 không ảnh hưởng đến phản ứng SIH khi kết hợp với chất chủ vận thụ thể GABAA chọn lọc tiểu đơn vị α1, zolpidem (10 mg/kg), mặc dù zolpidem làm giảm nhiệt độ cơ thể cơ bản rõ rệt. Nghiên cứu này gợi ý về một tương tác giữa tiểu đơn vị α của thụ thể GABAA và sự kích hoạt thụ thể 5-HT1A trong phản ứng SIH. Cụ thể, dữ liệu của chúng tôi chỉ ra rằng các benzodiazepine ảnh hưởng đến tín hiệu serotonergic thông qua các tiểu đơn vị α3 của thụ thể GABAA. Hiểu rõ hơn về sự tương tác giữa hệ GABAA và serotonin trong phản ứng với stress có thể có giá trị trong việc tìm kiếm các thuốc giảm lo âu mới.
Giai đoạn bùng phát tủy bào của bệnh bạch cầu myelogenous mạn tính, BCR-ABL1+, liên quan đến một chuyển đoạn thứ phát liên quan đến MLL: báo cáo ca bệnh và tổng quan tài liệu Dịch bởi AI
Journal of Hematopathology - Tập 9 - Trang 29-33 - 2016
Mặc dù các biến đổi nhiễm sắc thể thứ phát là phổ biến trong giai đoạn bùng phát tủy bào (MBP) của bệnh bạch cầu myelogenous mạn tính, BCR-ABL1+ (CML), các chuyển đoạn cân bằng có kiểu dạng thường thấy trong bệnh bạch cầu tủy cấp tính de novo (AML) thì ít gặp trong bối cảnh CML-MBP, và sự sắp xếp lại của MLL như một sự kiện thứ phát trong CML-MBP là cực kỳ hiếm. Chúng tôi trình bày một trường hợp CML-MBP trong đó một chuyển đoạn liên quan đến MLL đã được thu nhận như một bất thường thứ phát và xem xét các tài liệu liên quan. Các phát hiện về lâm sàng, hình thái học, kiểu hình miễn dịch và di truyền đã được xem xét. Một tìm kiếm các tài liệu liên quan đã được thực hiện. Chúng tôi báo cáo một trường hợp CML xuất hiện trong MBP, trong đó một chuyển đoạn cân bằng liên quan đến MLL đã được xác định như một biến thể nhiễm sắc thể thứ phát. Chuyển đoạn cụ thể thấy trong trường hợp này, t(3;11)(q21;q23), là hiếm gặp trong AML de novo, chưa được báo cáo trong bối cảnh CML-MBP theo hiểu biết của chúng tôi. Sau khi hoàn thành liệu pháp khởi động, và đạt được sự thuyên giảm hình thái của bệnh bạch cầu cấp, chuyển đoạn MLL thứ phát trở nên không thể phát hiện, mặc dù BCR-ABL1 vẫn tồn tại. Mặc dù các ví dụ được công bố là cực kỳ hiếm, CML-MBP có thể liên quan đến các chuyển đoạn thứ phát có liên quan đến MLL.
#bạch cầu myelogenous mạn tính #giai đoạn bùng phát tủy bào #chuyển đoạn thứ phát #MLL
Tổng số: 12   
  • 1
  • 2